Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÒNG LAS-XD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÒNG LAS-XD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Các sai phạm thường gặp của phòng thí nghiệm chuyên ngành LAS-XD

Một số phòng thí nghiệm thiếu chứng chỉ đào tạo của trưởng phòng thí nghiệm, thí nghiệm viên, công nhân thí nghiệm (như LAS-XD 1004, LAS-XD 244, LAS-XD 525, LAS-XD 27, LAS-XD 831…).
KẾT LUẬN THANH TRA CỦA BỘ XÂY DỰNG
THANH TRA MỘT SỐ  PHÒNG THÍ NGHIỆM LAS-XD
Ngày 15/02/2012
Thực hiện Quyết định số 194/QĐ-BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Thanh tra Bộ Xây dựng đã thành lập đoàn Thanh tra tiến hành thanh tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động thí nghiệm của một số phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (LAS-XD) tại Hà Nội, TP.HCM và một số tỉnh, thành phố khác giai đoạn từ 2008 đến nay. Qua công tác thanh tra, Thanh tra các Sở Xây dựng đã phát hiện ra một số vấn đề tồn tại chủ yếu trong hoạt động của các phòng thí nghiệm như: một số phòng thí nghiệm không đủ trang thiết bị cho một số chỉ tiêu phép thử, có đơn vị thay đổi địa điểm đặt phòng thí nghiệm, thay đổi hoặc bổ nhiệm cán bộ quản lý nhưng không báo cáo cơ quan quản lý, công tác báo cáo tình hình hoạt động không đầy đủ nội dung theo quy định…

Phát hiện nhiều sai phạm
Kết luận thanh tra cho thấy một số phòng thí nghiệm không có quyết định bổ nhiệm trưởng phòng thí nghiệm như LAS-XD 342… Một số phòng thí nghiệm thiếu hợp đồng sử dụng lao động đối với cán bộ quản lý và nhân viên thí nghiệm được đăng ký trong hồ sơ, một số phòng thí nghiệm ký hợp đồng thời vụ với nhân viên thí nghiệm (như LAS-XD 224, LAS-XD 510…). Một số phòng thí nghiệm thiếu chứng chỉ đào tạo của trưởng phòng thí nghiệm, thí nghiệm viên, công nhân thí nghiệm (như LAS-XD 1004, LAS-XD 244, LAS-XD 525, LAS-XD 27, LAS-XD 831…).
Năng lực thiết bị của một số phòng thí nghiệm còn yếu. Một số thiết bị thí nghiệm được phòng thí nghiệm đăng ký thực hiện các phép thử đã hết thời hạn hiệu chuẩn nhưng không được kiểm định và hiệu chuẩn lại theo quy định như LAS-XD 525, LAS-XD 1042. LAS-XD 545, LAS-XD 810… Mặt khác, một số phòng thí nghiệm được cấp phép thực hiện một số phép thử nhưng qua kiểm tra phòng thí nghiệm thì không có thiết bị để thực hiện các phép thử đó (LAS-XD 919, LAS-XD 663, LAS-XD 999).
Việc thay đổi địa chỉ theo đăng ký, thay đổi trưởng phòng thí nghiệm, thay đổi nhân viên thí nghiệm hoặc tạm dừng hoạt động nhưng không thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng biết như: LAS-XD 667, LAS-XD 959, LAS-XD 515, LAS-XD 919… Một số phòng thí nghiệm không gửi bản sao Quyết định công nhận phép thử và công văn thông báo gửi Sở Xây dựng địa phương về hoạt động của phòng thí nghiệm và không lập báo cáo tình hình hoạt động của phòng thí nghiệm trong năm gửi về cơ quan đánh giá công nhận trước ngày 31/01 của năm sau, LAS-XD 704, LAS-XD 1016, LAS-XD 1004, LAS-XD656, LAS-XD 992…
Qua quá trình thanh tra đã phát hiện nhiều thiếu sót trong hoạt động thí nghiệm. Một số phòng thí nghiệm có phiếu kết quả thí nghiệm không có chữ ký của trưởng phòng thí nghiệm, không có chữ ký của thí nghiệm viên, không ghi tên thiết bị thí nghiệm, không ghi tiêu chuẩn thí nghiệm, không đóng dấu LAS-XD và dấu pháp nhân của cơ sở quản lý phòng thí nghiệm như LAS-XD 136, LAS-XD 244, LAS-XD 296, LAS-XD 462, …
Một số phòng thí nghiệm không có sổ sách ghi chép kết quả quá trình thí nghiệm như LAS-XD 716, LAS-XD 735, LAS-XD185. Một số phòng thí nghiệm không có bản vẽ mặt bằng, kích thước phòng thí nghiệm, vị trí các thiết bị thí nghiệm. Diện tích một số phòng thí nghiệm quá chật hẹp, không có bản vẽ mặt bằng phòng thí nghiệm (mặt bằng với kích thước phòng, vị trí các thiết bị thí nghiệm, vị trí lưu mẫu ) như LAS-XD 491, LAS-XD 286, LAS-XD 818, LAS-XD773… Một số phòng thí nghiệm đã được cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng của phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000, tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 (yêu cầu chung về năng lực đối với phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn). Các phòng thí nghiệm đã áp dụng hệ thống quản lý chất lượng của phòng thí nghiệm vào thực tế quản lý phòng thí nghiệm ngày càng có hiệu quả hơn.
Trong quá trình thanh tra, tại các Sở Xây dựng Sóc Trăng và Lào Cai đã phát hiện phòng thí nghiệm trên địa bàn cung cấp phiếu kết quả thí nghiệm nhưng không thực hiện các phép thử như: Tại tỉnh Sóc trăng, phòng thí nghiệm LAS-XD 630 thuộc Cty CP Công nghệ xây dựng qua kiểm tra số liệu kết quả thí nghiệm trong sổ nhật kí thí nghiệm không thống nhất với phiếu kết quả thí nghiệm xuất ra. Cụ thể kiểm tra phiếu kết quả thí nghiệm xuất ra ngày 30/4/2010 của công trình Lò hỏa táng cải tiến chùa Prek Om Pu và phiếu kết quả thí nghiệm ngày 25/5/2010 của công trình Lò hỏa táng cải tiến chùa Pro sách Kông nhưng không có số liệu thí nghiệm. Tại tỉnh Lào Cai, phòng thí nghiệm LAS-XD 663 của Cty CP Tư vấn giao thông, qua kiểm tra đơn vị cung cấp khống 12 kết quả ép mẫu bê tông tuổi 28 ngày ở các phiếu kết quả thí nghiệm số 1367 ngày 06/5/2011 và phiếu kết quả thí nghiệm số 1481 ngày 30/5/2011.
Những đề xuất cần khắc phục
Theo kết luận của Đoàn Thanh tra, do việc thành lập quá nhiều các phòng thí nghiệm, một số phòng thí nghiệm được chủ đầu tư thành lập để phục vụ cho dự án của mình hoặc một số nhà thầu thi công thành lập phòng thí nghiệm để thực hiện các phép thử khi tư vấn yêu cầu. Vì vậy, khi kiểm tra có rất nhiều phòng thí nghiệm thực hiện rất ít các phép thử do không có việc làm và không cạnh tranh được với giá của các phòng thí nghiệm khác;… Một số phòng thí nghiệm có nhiều cơ sở thí nghiệm tại hiện trường do vậy thiết bị được điều chuyển liên tục nên việc hiệu chuẩn thiết bị thí nghiệm tại hiện trường khó khăn và thường hay bị quá hạn hiệu chuẩn.
Công tác kiểm tra theo định kỳ hàng năm của Sở còn hạn chế, các hành vi vi phạm của phòng thí nghiệm chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên chưa có tính răn đe và một số phòng thí nghiệm vẫn thực hiện sai quy định pháp luật.
Qua kiểm tra, hầu hết các phòng thí nghiệm đều có một hoặc nhiều vi phạm theo Quyết định số 11/2008/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng. Các phòng thí nghiệm có những thiếu sót và những tồn tại ở mức độ khác nhau đã được Đoàn thanh tra nhắc nhở và yêu cầu khắc phục ngay những thiếu sót và tồn tại của phòng thí nghiệm. Những thiếu sót tập trung vào những điểm chính như: Sổ ghi chép kết quả quá trình thí nghiệm của các phòng thí nghiệm chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý chất lượng như không ghi đầy đủ tên đơn vị gửi mẫu, tên công trình, ngày thí nghiệm, không ghi tên người thí nghiệm; Các phòng thí nghiệm chưa có một quy định cụ thể nào về cách đánh số thứ tự mẫu dẫn đến mỗi phòng có một cách ghi khác nhau: phòng thì ghi theo tên công trình, phòng thì ghi theo ngày tháng thí nghiệm, phòng thì ghi theo số thứ tự từ bé đến lớn… dẫn đến việc kiểm soát số lượng phép thử, số liệu thí nghiệm, lưu trữ số liệu thí nghiệm không chính xác, hay bị thất lạc và gặp nhiều khó khăn khi tìm lại số liệu cũ để đối chiếu so sánh với phiếu kết quả thí nghiệm; Phiếu kết quả thí nghiệm của các phòng thí nghiệm hầu hết đều chưa đáp ứng được yêu cầu của điều 17, Quyết định số 11/2008/QĐ-BXD như không ghi tên, địa chỉ đơn vị thí nghiệm, không ghi tiêu chuẩn và thiết bị thí nghiệm, chữ ký của trưởng phòng, nhân viên thí nghiệm tên cán bộ giám sát của chủ đầu tư…
Hầu hết các đơn vị quản lý phòng thí nghiệm chưa thực hiện nghiêm túc việc báo cáo theo quy chế công nhận và quản lý phòng thí nghiệm. Nhiều đơn vị sau khi có quyết định công nhận phép thử đã không gửi công văn thông báo và bản sao quyết định công nhận phép thử cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng tại địa phương nơi đặt phòng thí nghiệm; Một số phòng thí nghiệm không lập báo cáo hàng năm, không thông báo về thay đổi thí nghiệm viên, thay đổi thiết bị thí nghiệm như đã đăng ký về Vụ Khoa học và công nghệ Bộ Xây dưng; Về diện tích mặt bằng phòng thí nghiệm và môi trường. Hầu hết các phòng thí nghiệm đều có sơ đồ bản vẽ mặt bằng phòng thí nghiệm, vị trí bố trí các thiết bị thí nghiệm, nhìn chung đáp ứng được diện tích theo quy định bên cạnh đó còn một số phòng thí nghiệm có diện tích chật hẹp đặt phòng thí nghiệm ở những khu đông dân cư, thậm chí còn đặt phòng thí nghiệm tại nhà ở gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh như bụi bẩn tiếng ồn.
Với những tồn tại trong hoạt động của các phòng thí nghiệm được phát hiện này, Thanh tra Bộ Xây dựng cũng đã có những kiến nghị nhằm đảm bảo việc chấp hành pháp luật trong hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.

Phạm vi hoạt động của phòng LAS-XD

Câu hỏi của bạn Nguyễn Thanh Sơn tại hòm thư sonagnt@gmail.com hỏi :
Căn cứ Công văn số 1064/BXD-KHCN ngày 18/08/1997 của Bộ Xây dựng về việc thoả thuận để Bộ GTVT tổ chức kiểm tra, đánh giá và ra quyết định công nhận khả năng hoạt động cho các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng giao thông;
Căn cứ Quyết định số 676/QĐ-BGTVT ngày 06/04/2011 của Bộ Giao thông vận tải về việc công nhận thực hiện các phép thử của phòng thí nghiệm thuộc Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng và giao thông An Giang;
Phòng thí nghiệm LAS-XD190 của chúng tôi đã được đánh giá và công nhận lại nhiều lần theo qui định, hoạt động trong phạm vi đúng theo quyết định công nhận. Tuy nhiên gần đây có ý kiến cho rằng:
1. Phòng LAS-XD 190 của công ty chúng tôi do Bộ Giao thông Vận tải công nhận nên không phải là phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng;
2. Vì vậy phòng thí nghiệm không phù hợp để thực hiện các phép thử liên quan đến kiểm tra chất lượng cho công trình xây dựng dân dụng như: thử nén tĩnh tải cọc ....
Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng và Giao thông An giang kính đề nghị Bộ Xây dựng trả lời cụ thể hai nội dung nêu trên giúp chúng tôi giải thích rõ vấn đề này với các khách hàng của công ty.
Sau khi nghiên cứu, Vụ Khoa học Công nghệ & Môi trường có ý kiến như sau:
1. Phòng thí nghiệm LAS-XD 190 là phòng thí nghiệm chuyên ngành Xây dựng. Bộ Xây dựng đã có văn bản 1064/BXD-KHCN ngày 18/8/1997 về việc thỏa thuận để Bộ GTVT cấp chứng nhận các phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng công trình giao thông.
2.Trong danh sách các phép thử trên công nhận, nếu có các phép thử phù hợp với việc kiểm tra chất lượng xây dựng các công trình dân dụng - công nghiệp thì được phép tham gia vào công tác thí nghiệm cho công trình đó.
Vụ Khoa học Công nghệ & Môi trường
lasxd.com

Nén mẫu bê tông lập phương một tổ 2 viên được không

Đơn vị chúng tôi thực hiện công tác chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng cho một công trình trên địa bàn tỉnh An Giang.
Cục Giám định trả lời về việc Nhà thầu thi công lấy kết quả thí nghiệm xác định cường độ chịu nén tổ mẫu lập phương 02 viên chuẩn để nghiệm thu kết cấu bê tông
Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng có nhận được câu hỏi của công dân Huỳnh Anh Kiệt, địa chỉ Email (tqminhag@yahoo.com.vn) hỏi: “Đơn vị chúng tôi thực hiện công tác chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng cho một công trình trên địa bàn tỉnh An Giang. Khi tôi kiểm tra tài liệu quản lý chất lượng công trình này thì thấy có sự không phù hợp trong việc nghiệm thu công tác bêtông là nhà thầu thi công dùng tổ mẫu lập phương chuẩn 02 viên để nghiệm thu thay vì 03 viên như qui định tại điều 7.1.7 của tiêu chuẩn áp dụng TCVN 4453:1995. Tuy nhiên, nhà thầu thi công vận dụng điều 4.2.2 TCVN 3118:1993 để bảo lưu việc dùng tổ mẫu lập phương chuẩn 02 viên. Chúng tôi không đồng ý với quan điểm của nhà thầu thi công vì tổ mẫu 02 viên chỉ áp dụng cho mẫu khoan và đã báo cáo với chủ đầu tư về vấn đề này nhưng chủ đầu tư chưa thống nhất và yêu cầu chúng tôi xin ý kiến của Bộ Xây Dựng”.
Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng cú ý kiến như sau:
Công tác nghiệm thu kết cấu bê tông, được áp dụng 02 Tiêu chuẩn sau: Tiêu chuẩn TCVN 3015 : 1993 - “Hỗn hợp bê tông nặng và bê tông nặng - Lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử”. Tại Khoản 3 điểm 3.3 của Tiêu chuẩn nêu trên quy định: “Mẫu bê tông được đúc thành các viên theo tổ. Tổ mẫu thử chống thấm gồm 06 viên chuẩn, tổ mẫu thử mỗi chỉ tiêu khác gồm 03 viên chuẩn hình lập phương kích thước 150 x 150 x 150 mm”; Tiêu chuẩn TCVN 3118 : 1993 - “Bê tông nặng -  Phương pháp xác định cường độ chịu nén”.
Như vậy Nhà thầu thi công sử dụng kết quả thí nghiệm xác định cường độ chịu nén tổ mẫu lập phương 02 viên chuẩn để nghiệm thu kết cấu bê tông là không phù hợp.

Cường độ bê tông đúc tại hiện trường ở tuổi 28 ngày đạt thiết kế khi giá trị trung bình của 3 mẫu đạt mác thiết kế

Câu hỏi của bạn Văn Phú Vũ Tại hũm thư phuvu1981@yahoo.com hỏi :
Theo  qui trình thi công và nghiệm thu TCVN 4453 - 1995, điều 7.1.8. "Cường độ bê tông đúc tại hiện trường ở tuổi 28 ngày là đạt  thiết kế khi giá trị trung bình của 3 mẫu đạt mác thiết kế và không có mẫu nào có cường độ nhỏ hơn 85% mác thiết kế"
Theo qui trình thí  nghiệm nén bê tông xi măng TCVN 3118 - 1993: "Cường độ bê tông đúc tại hiện trường ở tuổi 28 ngày đạt thiết kế khi giá trị trung bình của 3 mẫu đạt mác thiết kế. Nếu 1 trong 3 mẫu có cường độ nhỏ hơn 85% mác thiết kế thỡ loại bỏ 2 mẫu nhỏ nhất và lớn nhất, lúc đó cường độ bê tông là mẫu có giá trị giữa"
Tổ bê tông của tôi có kết quả thí nghiệm đạt thiết kế, tuy nhiên trong 3 mẫu có 1 mẫu có mác nhỏ hơn 85% mác thiết kế. Như vậy, phần bê tông đó có được nghiệm thu và thanh toán hay không?
 
Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng cú ý kiến như sau:
Trong câu hỏi, Ông trích dẫn Tiêu chuẩn TCVN 4453:1995 và Tiêu chuẩn TCVN 3118:1993 đều chưa chính xác.
Tiêu chuẩn TCVN 3118:1993 “Bê tông nặng–Phương pháp xác định cường độ nén” quy định phương pháp xác định cường độ chịu nén của bê tông nặng, không phải là tiêu chuẩn nghiệm thu.
Đối chiếu Điểm 7.1.8 Khoản 7.1 Mục 7 Tiêu chuẩn TCVN 4453:1995 “Cường độ bê tông trong công trình sau khi kiểm tra ở tuổi 28 ngày bằng ép mẫu đúc tại hiện trường được coi là đạt yêu cầu thiết kế khi giá trị trung bình của từng tổ mẫu không được nhỏ hơn mác thiết kế và không có mẫu nào trong các tổ mẫu có cường độ dưới 85% mác thiết kế” thì phần bê tông có kết quả thí nghiệm nén mẫu như trong trường hợp Ông hỏi không đạt yêu cầu thiết kế.

Cách đánh giá mác bê tông ống cống ly tâm

Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng đó nhận được câu hỏi của công dân Ngô Bảo Vinh, địa chỉ Email (baovinh79@yahoo.com) hỏi: "Có được áp dụng TC 239-2005 để đánh giá mác ống cống bêtông ly tâm khi kiểm định chất lượng công trình hay không? Nếu bắt buộc mác công bêtông ly tâm khi kiểm định phải >= mác thiết kế thì Cty chúng tôi phúc tra lại như kết quả trên có xem là đạt mác thiết kế và đủ điều kiện nghiệm thu hay không?".

Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng cú ý kiến như sau:
Khi việc lấy mẫu thử của ống cống bê tông để xác định cường độ chịu nén tuân thủ theo đúng quy định của TCVN 3105 : 1993 và TCVN 3118 : 1993 thì có thể áp dụng TCXDVN 239 : 2005 để đánh giá mác bê tông theo cường độ chịu nén. Nếu các tổ mẫu thử (nêu trong thư bạn đọc) được lấy mẫu theo quy định của TCVN 3105 : 1993, TCVN 3118 : 1993 và được đánh giá theo quy định của TCXDVN 239 : 2005 có kết quả như đó liệt kê thì cũng theo chỉ dẫn về cách đánh giá trong TCXDVN 239 : 2005, mác bê tông theo cường chịu nén của các tổ mẫu này hoàn toàn đáp ứng yêu cầu so với mác bê tông do thiết kế quy định.

Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Nghiệm thu đối với đường kính thép fi 12 thực tế khi thí nghiệm hay đường kính danh nghĩa

Nghiệm thu hạng mục theo hợp đồng đối với kết cấu là thép fi 12 (theo thiết kế kỹ thuật đó được duyệt). Thực tế thi công kiểm tra thí nghiệm thép có fi 11.95 (đạt yêu cầu kỹ thuật - cho phép sai số 0.05mm). Tôi xin hỏi khối lượng nghiệm thu theo chỉ số nào? fi12 hay fi11,95."
Cục Giám định trả lời câu hỏi về nghiệm thu hạng mục theo Hợp đồng đối với kết cấu thép fi 12
Cục Giám định nhận được câu hỏi của phòng kỹ thuật Ban quản lý dự án thủy điện 2-EVN (p4atd2@gmail.com) như sau: "Nghiệm thu hạng mục theo hợp đồng đối với kết cấu là thép fi 12 (theo thiết kế kỹ thuật đó được duyệt). Thực tế thi công kiểm tra thí nghiệm thép có fi 11.95 (đạt yêu cầu kỹ thuật - cho phép sai số 0.05mm).
Tôi xin hỏi khối lượng nghiệm thu theo chỉ số nào? fi12 hay fi11,95."



Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định trả lời như sau:
Bộ Khoa học và công nghệ đó ban hành “TCVN 1651: 2008 Thép cốt bê tông gồm cú 3 phần - Phần 1 – thép thanh tròn trơn, Phần 2-Thép thanh vằn, Phần 3- Lưới thép hàn”. Đây là tiêu chuẩn bắt buộc đối với nhà thầu thiết kế, nhà thầu thi công xây dựng.
Do Quý phòng không nêu ra cốt thép d=12 là loại thép tròn trơn hay thép vằn nên về vấn đề mà Quý phòng đã hỏi, được trả lời như sau:
1. Theo qui định tại khoản 5 của TCVN 1651-1:2008 “Phần 1-thép thanh tròn trơn” thì “ Kích thước, khối lượng 1m chiều dài và sai lệch cho phép được nêu trong Bảng 2. Theo thỏa thuận giữa nhà sản xuất và người mua, có thể sử dụng các thanh thép tròn trơn có đường kính danh nghĩa khác với đường kính nêu trong Bảng 2. Khi có sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất và người mua, sai lệch cho phép về khối lượng có thể được thay thế bằng dung sai đường kính”. Bởi vậy, nếu cốt thép có đường kính danh nghĩa d sai lệch do chế tạo trong phạm vi sai số cho phép thì được phép sử dụng và thanh toán theo đường kính danh nghĩa.
Trường hợp thép cốt thanh trũn trơn d=12, với sai lệch cho phép về khối lượng 1 m chiều dài là ± 8% thì đường kính danh nghĩa được phép sai lệch từ 11,51mm- 12,47mm. Bởi vậy nếu thép cốt có đường kính danh nghĩa là 11,95mm thì được phép sử dụng và thanh toán khối lượng với d=12.
2. Theo quy định tại khoản 5 của TCVN 1651-2:2008 “ Phần 2-Thép thanh vằn” thì “Kích thước, khối lượng 1m chiều dài và sai lệch cho phép được nêu trong Bảng 2. Theo thỏa thuận giữa nhà sản xuất và người mua, có thể sử dụng các thanh thép vằn có đường kính danh nghĩa khác với đường kính nêu trong Bảng 2.”. Bởi vậy, cũng như đối với thép thanh tròn trơn thì nếu thép cốt có đường kính danh nghĩa d sai lệch do chế tạo vượt quá trong phạm vi sai số cho phép thì không được phép sử dụng vào công trình kể cả khi có sự thỏa thuận giữa nhà sản xuất với người mua. Khác với thép thanh trũn trơn, sai lệch cho phép về khối lượng không được thay thế bằng dung sai đường kớnh
Thép cốt thanh vằn d=12, với sai lệch cho phép về khối lượng 1 m chiều dài là ± 6% thì đường kính danh nghĩa được phép sai lệch từ 11,63 mm- 12,36mm. Bởi vậy nếu thép cốt có đường kính danh nghĩa là d=12 nhưng thực tế là 11,95mm; vẫn được phép sử dụng, nhưng thanh toán khối lượng với d=11,95.

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Đơn vị giám sát có thể làm thí nghiệm vật liệu cho công trình mình giám sát hay không?

"Hiện nay tôi đang làm việc tại một Trung tâm Kiểm định, Trung tâm chúng tôi cú một phòng thí nghiệm Vật liệu xõy dựng (VLXD) hợp chuẩn. Vừa qua, chúng tôi có trúng thầu giám sát một dự án xây dựng ( Xây dựng mới trụ sở làm việc của Sở bưu chính viễn thông). Theo điểm 7 điều 36 của Nghị đính Số 12/2009/NĐ-CP có ghi “ Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước......., nhà thầu giám sát không được ký hợp đồng với nhà thầu xây dựng thực hiện kiểm định chất lượng công trình xây dựng đối với công trình mình giám sat, trừ trường hợp người ra quyết định đầu tư cho phép”
Như vậy cho tôi được hỏi:
1, Cụm từ “Kiểm định chất lượng công trình xây dựng” theo Nghị định 12 khác với thí nghiệm vật liệu xây dựng như thế nào ?. vì thông thường đối với nhà thầu xây dựng chỉ tiến hành thí nghiệm các vật liệu trước khi đưa vào công trỡnh chứ khụng cần kiểm định công trình
2, Trung tâm chúng tôi vừa làm Tư vấn giám sát vừa sử dụng phòng thí nghiệm của Trung tâm để thực hiện các thí nghiệm VLXD cung cấp cho nhà thầu có được không ?"



Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng có ý kiến như sau:
1. Kiểm định chất lượng xây dựng là hoạt động kỹ thuật theo một quy trình nhất định nhằm đánh giá và xác nhận sự phù hợp của sản phẩm, bộ phận công trình, hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng với quy định của thiết kế và quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng tương ứng được áp dụng.
2. Kiểm định chất lượng xây dựng được thực hiện trong các trường hợp sau:
a) Đánh giá hiện trạng chất lượng công trỡnh đang sử dụng;
b) Bộ phận công trình, hạng mục công trình và công trình xây dựng có nghi ngờ về chất lượng;
c) Khi công trình có sự cố;
d) Theo yêu cầu của Chủ đầu tư, tổ chức bán bảo hiểm, nhà thầu cung cấp vật liệu xây dựng, thiết bị hoặc của nhà thầu thi công xây dựng khi có tranh chấp hợp đồng xây dựng về chất lượng xây dựng.
đ) Theo yêu cầu của chủ đầu tư trước khi nghiệm thu đối với hình thức chìa khóa trao tay.
e) Phúc tra chất lượng khi có nghi ngờ về chất lượng trong quá trình chứng nhận đủ điều kiện an toàn chịu lực và chứng nhận về sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng.
g) Theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng khi có nghi ngờ về chất lượng hoặc hồ sơ hoàn công không đủ cơ sở để đánh giá chất lượng.
Thí nghiệm vật liệu xây dựng là việc thực hiện các phép thử nhằm kiểm tra, đánh giá các đặc trưng kỹ thuật của đất xây dựng, vật liệu, kết cấu, cấu kiện,...sử dụng trong công trình xây dựng bằng các thiết bị, máy móc chuyên dùng. Nói một cách chính xác là thí nghiệm vật liệu xây dựng là cơ sở của việc kiểm định chất lượng xây dựng.
3. Nhà thầu thi công xây dựng được tự thực hiện việc kiểm tra vật tư, vật liệu, cấu kiện xây dựng tại phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được công nhận của chính nhà thầu hoặc thuê của tổ chức khác thông qua hợp đồng hoặc văn bản yêu cầu. Bởi vậy, nếu Trung tâm kiểm định của bạn có phòng thí nghiệm chuyê ngành xây dựng đó được công nhận thử được phép thí nghiệm vật liệu xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng nhưng không được thực hiện kiểm định chất lượng xây dựng trong các trường hợp mà khoản 7 Điều 36 của Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng đó quy định.
Phiếu kết quả thí nghiệm phải ghi rừ số hợp đồng thí nghiệm hoặc văn bản yêu cầu của đơn vị yêu cầu thí nghiệm (nhà thầu thi công xây dựng) theo quy định tại Điều 17 Quy chế cụng nhận và quản lý hoạt động phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng được ban hành kèm theo Quyết định số 11/2008/ QĐ-BXD ngày 01/7/2008 của Bộ Xây dựng. Việc lấy mẫu và thực hiện các phép thử phải do chính Trung tâm kiểm định thực hiện. Phiếu kết quả thí nghiệm phải phản ảnh chất lượng thực tế của toàn bộ vật liệu trên công trường chứ không phải chỉ đúng với mẫu do nhà thầu thi công xây dựng mang đến.