Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÒNG TU TẬP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÒNG TU TẬP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Bài hát phật giáo hay nhất - Trường Kinh A Di Đà - nge mà nhẹ cả người

Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật ở chùa Kỳ Viên thuộc thành Xá Vệ do Cấp Cô Độc phát tâm hiến cúng.
Pháp hội bấy giờ có khoảng một nghìn hai trăm năm mươi tỳ kheo xuất chúng,trong đó nhiều vị đại A La Hán.

Ngài Đại Ca Diếp,ngài Xá Lợi Phất
Ngài Mục Kiền Liên,ngài Ca Chiên Diên
Ngài Câu Hi La, Châu Lợi Bàn Đà
Ngài Ly Bà Đa,ngài A Nan Đà
Ngài La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề
Ngài Tân Đầu Lô, ngài Kiếp Tân Na
Ngài Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà
Và ngài Nan Đà, các đại bồ tát như:
A Dật Đa, Càn Đà Ha Đề
Văn Thù Sư Lợi và Thường Tinh Tấn
Cùng dự pháp hội của trời Đế Thích
Và hàng chư thiên cũng đều có mặt
Bấy giờ Đức Phật bảo Xá Lợi Phất
Hướng về phương Tây khoảng mười muôn ức cõi nước chư Phật
Có một thế giới tên là Cực Lạc
Giáo chủ là Phật hiệu A Di Đà
Bậc Vô Lượng Quang, Bậc Vô Lượng Thọ hiện đang thuyết pháp


Mỗi mùa vu lan Mẹ tôi lại già thêm một tuổi

Mỗi mùa vu lan Mẹ tôi lại già thêm một tuổi
Con biết những lời này Cha Mẹ không đọc được.



Vật chất con không lo dc cho Cha Mẹ, nhưng lòng con lúc nào cũng tôn kính Cha Mẹ. hồi mới đi làm lương 1,5tr / tháng tự nhủ nếu lương 2tr con sẽ gởivề cho Mẹ 500 ngàn, nhưng cho đến nay đã mười mấy năm rồi lương con cũng đã hơn hai triệu nhưng con cũng chưa gởi dc cho Mẹ 500 ngàn. Không phải con không biết, tại con lo cho gia đình nhỏ của con còn thiếu hụt. Con xin lỗi Cha Mẹ vì con không thể mang nhiều vật chất và tiền bạc về cho Cha Mẹ nhưng tấm lòng con thì luôn bên Cha Mẹ.
Con luôn cầu cho Cha Mẹ được khỏe mạnh để sống mãi bên con.

Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời,cầu cho cha mẹ sống đời với con,còn cha còn mẹ thì hơn,không cha không mẹ như đờn đứt dây,đờn đứt dây còn xuây còn nối,cha mẹ mất rồi con chịu mồ côi,
Mồ côi khổ lắm ai ơi,đói cơm không ai biết,lỡ lời không ai phân

Thương Cha xuôi ngược giữa dòng
Mẹ yêu tất cả gánh gồng nuôi con.

Ai còn mẹ, xin đừng làm mẹ khóc..
đừng để buồn lên mắt mẹ nghe không




Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Sau 80 năm, thi hài của một vị Tăng sĩ vẫn như người sống

MOSCOW, Russia: Cuộc khai quật nhục thân của Lạt Ma Tăng Thống (Hambo) Itigelov được diễn ra vào hôm 10 tháng 9 năm 2002 trong khu vực nghĩa trang thuộc vùng phụ cận thành phố Ulan Ude (Liên Bang Nga). Ngài viên tịch và được chôn cất vào năm 1927. Cuộc khai quật này đã được thực hiện dưới sự chứng kiến của thân nhân, giới chức hữu trách và các nhà chuyên môn.
Nhục thân kim cương bất hoại
  
   Đây là những thông tin được đăng tải trên các cơ quan truyền thông đại chúng liên quan đến việc Lạt Ma Buryat được khai quật lên từ phần mộ của ngài vào đầu thế kỷ thứ 21. Huyệt mộ này chứa đựng một cổ quan tài bằng gỗ trong đó chôn cất một vị Lạt Ma Phật giáo đang ngồi trong tư thế kiết già. Nhục thân của ngài thoạt nhìn tưởng là được bảo quản như một xác ướp, nhưng thật ra không phải thế. Da thịt của ngài vẫn còn tươi nhuận mịn màng, các khớp xương vẫn có thể co duỗi. Nhục thân của ngài được liệm trong y phục bằng lụa và vải.
 
  Lạt Ma Tăng Thống Itigelov là một con người có thực, và khá nổi tiếng trong lịch sử nước Nga. Ngài theo học tại Anninsky Datsan (một Đại học Phật giáo tại Buryatia mà nay đã hoang phế) và tốt nghiệp cả hai bộ môn y khoa lẫn triết học (về tánh không), ngài là người đã làm nên bộ từ điển bách khoa về dược học.

   Năm 1911 ngài Itigelov trở thành Lạt Ma Tăng Thống (lãnh đạo giáo hội Phật giáo Nga). Trong khoảng thời gian từ 1913-1917 ngài đã tham gia vào các công tác xã hội giúp đỡ Nga hoàng và đã được hoàng gia Nga mời tham dự ngày kỷ niệm 300 năm của đế quyền Romanov. Ngài cũng là người thành lập ngôi chùa Phật giáo đầu tiên tại thành phố St. Petersburg và Nga hoàng Nikolai II đã tặng thưởng ngài huy chương St. Stanislav vào hôm 19 tháng 3 năm 1917.
 
   Trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, Lạt Ma Itigelov đã thành lập và là nguồn hứng khởi cho một tổ chức có tên là "Huyng Đệ Buryat". Ngài đã giúp đỡ, tài trợ cho quân đội Nga tiền bạc, lương thực, thuốc men đồng thời dựng lên hàng loạt những bệnh viện để chăm sóc các binh sĩ bị thương do các bác sĩ lạt ma điều trị. Với những hoạt động này ngài đã được ân thưởng huy chương St. Anna và nhiều huy chương cao qúy khác.
 
   Vào năm 1926 ngài đã khuyến cáo các tăng sĩ Phật giáo nên rời khỏi nước Nga khi làn sóng đỏ đang tràn ngập đất nước này –nhưng ngài thì tự nguyện ở lại. Năm 1927, ở tuổi 75, ngài bảo các lạt ma khởi sự nhập thiền cùng với ngài và báo cho họ biết rằng ngài sắp viên tịch. Các vị lạt ma đã không muốn thực hiện nghi thức này trong khi ngài đang còn sống. Thế là ngài đã tự mình nhập định và các vị lạt ma khác tiếp tục nghi thức này ngay khi ngài vừa nhập diệt.
 
   Lạt ma Ititgelov để lại một văn bản chỉ dẫn cách thức tống táng mình, đó là để ngài ngồi trong tư thế kiết già như lúc thiền định, bỏ vào trong một cổ áo quan bằng gỗ tuyết tùng và chôn cất ngài trong nghĩa trang truyền thống của tu viện. Tất cả đều đã được thực hiện đúng theo yêu cầu. Trong một văn bản khác, ngài yêu cầu chư tăng hãy khai quật nhục thân của mình vài năm sau khi ngài qua đời (đây là điểm khá lý thú vì điều này có nghĩa là ngài đã biết trước rằng nhục thân của mình sẽ bất hoại). Việc này đã được thực hiện hai lần, một lần vào năm 1955 và sau đó là năm 1973, nhưng các tăng sĩ Phật giáo rất sợ hãi nên không dám tiết lộ điều này cho bất cứ ai bởi vì dưới chế độ cộng sản, tôn giáo đã không hề có chỗ đứng trong xã hội. Mãi cho đến năm 2002, nhục thân của ngài mới được khai quật lần nữa và chuyển đến Ivolginsky Datsan (nơi thường trú của vị Tăng Thống Lạt Ma hiện nay). Tại đây nhục thân của ngài đã được khám xét kỹ lưỡng bởi các tăng sĩ, và quan trọng hơn, bởi các nhà khoa học cũng như bệnh lý học. Một văn bản chính thức của giới chức hữu trách được ban hành nói rõ rằng nhục thân của ngài đã được giữ trong tình trạng hoàn hảo, toàn bộ bắp thịt, tế bào nội tạng, gân, da, không có bất kỳ dấu hiệu nào thối rửa. Và điều đáng nói là nhục thân của ngài không hề trải qua một kỹ thuật ướp xác nào.
 
   Hai năm đã qua, nhục thân của Lạt ma Itigelov đã được để tiếp cận với không khí, với con người mà không cần đến bất cứ chế độ bảo quản nào về nhiệt đô hay độ ẩm. Làm thế nào mà nhục thân của ngài vẫn giữ được trong tình trạng nguyên vẹn như thế là điều không ai hiểu được.
 
   Đây là MỘT TRƯỜNG HỢP DUY NHẤT ĐƯỢC BIẾT VÀ CÔNG NHẬN VỀ NHỤC THÂN BẤT HOẠI trên toàn thế giới. Những kỹ thuật ướp xác thường được biết đến ở những quốc gia và dân tộc khác nhau, cụ thể như Chili (Chinchora), những xác ướp Ai Cập, những vị thánh Cơ Đốc, các nhà lãnh đạo cộng sản,… Một số xác chết được tìm thấy trong băng tuyết lâu đời, thế nhưng khi đem ra tiếp cận với không khí, chúng đều bị tan rửa chỉ trong vài giờ đồng hồ.
 
   Tuy vấn đề nhục thân bất hoại đã được đề cập đến trong nhiều kinh sách Phật giáo, thế nhưng chưa có trường hợp nào được công nhận. Mãi cho đến bây giờ.

   Trải qua hai năm khi nhục thân của ngài Itigelov được khai quật, nó không hề thối rửa, không hề bị mốc meo hay bất cứ triệu chứng tiêu cực nào. Ngài Itigelov đã tuyên bố trước khi viên tịch rằng ngài muốn để lại một thông điệp cho toàn thể con người ở trên trái đất. Đấy là một thông điệp không lời. Và bây giờ đến phiên chúng ta đã hiều được thông điệp đó.
 
 
(Theo Bumninorn.ru, Feb 25, 2007- Tâm Hà Lê Công Đa chuyển ngữ)

Thêm một chuyện niệm Phật vãng sanh lưu xá lợi ở Úc châu

Được sự đồng ý của nhà thiêu Altona, con cháu của cụ và Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng đến nhà thiêu lúc 3g30 chiều cùng ngày 13-8-2001. Trong hộp tro cốt, Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng và con cháu cụ Diệu Hỷ, đã tìm thấy hơn trăm mảnh xá lợi đủ 5 màu sắc: đen, đỏ, vàng, xanh, trắng. Đa số các mảnh kết thành Hoa xá lợi, có hình như hoa cúc.
Cụ Diệu Hỷ và những viên xá lợi sau khi hỏa táng
 
Cụ bà Quách Thị  Huế, sanh ngày 15-1-1921 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Việt Nam. Bà là chị thứ tư trong gia đình cùng với 3 người em trai, hai người em đã quá vãng, hiện còn một người em trai là Quách Văn Bội, đang cư ngụ tại Melbourne, Australia .
 
Bà lập gia đình với ông Lê Đăng Vinh ( 1917- 1970 )    nguyên quán làng Gia Lộc, huyện Trãng Bàng, tỉnh  Tây Ninh. Ông Vinh, người trong Gia tộc vẫn gọi là ông Ba Ngộ, là con dòng thứ của một đại Hương Cả làng Gia Lộc thuộc Tổng Hàm Ninh Hạ, huyện Trãng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Khi còn trai trẻ, ông Ba Ngộ không ham học chữ nghĩa, chỉ say mê võ nghệ và bùa chú.  Khi lập gia đình với bà Huế, sanh được một người con trai, ông Ba Ngộ bỏ gia đình, vợ con lên vùng núi Thất Sơn ( Châu Đốc ) và dãy núi Tà Lơn (Cao Miên ) để tầm Thầy học võ và bùa chú. Trên đường tầm Thầy học võ và bùa chú, ông Ba Ngộ lần hồi qua đến Nam Vang, xứ Cao Miên thì gặp được kỳ ngộ.  Ông đã gặp được Sư  Hộ Tông, gặp được chánh  pháp của Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Ông Ba Ngộ bèn rũ bỏ tất cả võ nghệ và bùa chú, quy y Tam Bảo là Phật- Pháp- Tăng, và xuất gia theo hệ phái Phật giáo nguyên thủy Cao Miên Theravada. Đường tu học đưa dẫn ông lần sang Lào và Xiêm La. Năm 1945, nghe mẹ già và vợ con đang kẹt trong lằn chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, ông Ba Ngộ xin Thầy cho phép hoàn tục và lập tức trở về Việt Nam đưa mẹ và vợ con đi lánh nạn chiến tranh (thời đó gọi là đi tản cư  ).
Ông Ba Ngộ là người con chí hiếu  và lòng tín tâm vào ngôi Tam Bảo thật là sâu xa; nên ông đã lần hồi dắt dẫn vợ và mười một người con vào đường chánh pháp. Bà Quách Thị Huế có mười một người con với ông Ba Ngộ; gồm 7 trai và 4 gái.  Người con trai thứ 3 của bà đã tử nạn trong chiến tranh năm 1968 tại Việt Nam.
Năm 1960, do sự dẫn dắt của chồng, bà Quách Thị Huế đã quy y Tam Bảo và thọ ngũ giới tại chùa Pháp Quang ( đường Nguyễn văn Học , Gia Định ) được Sư  Hộ Tông và Sư Thiện Luật ( Giáo hội Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam ) đặt pháp danh là Diệu Hỷ. Cũng năm 1960 ông Ba Ngộ đem hai đứa con trai thứ 5 và thứ 6 ký gởi ở chùa Pháp Quang, làm nghĩa tử của Đại Đức Hộ Giác, giám đốc Phật học viện Pháp Quang thuộc hệ phái Phật Giáo  nguyên thủy Việt Nam Theravada. Người con trai thứ 5 của cụ Diệu Hỷ đã xuất gia năm 1964, thuộc hệ phái Phật Giáo nguyên thủy VN và theo học trường Cao Đẳng Phật Học Vạn Hạnh . Năm 1970, ông Ba Ngộ đột ngột qua đời lúc ông mới 53 tuổi. Cụ Diệu Hỷ chọn con đường ở vậy nuôi con.  Thật là một    "gánh nặng trần ai" nặng nề quằn quại trên đôi vai yếu ớt của bà mẹ Việt Nam. Năm 1972, cụ Diệu Hỷ rời bỏ quê hương Trãng Bàng, đến xứ Cần Thơ sinh sống. Năm 1975, cụ Diệu Hỷ lại rời Cần -Thơ về sinh sống tại tỉnh Vĩnh Long.   Tại nơi đây, cụ Diệu Hỷ đã trở thành người hộ Phật, hộ Pháp, hộ Tăng đầy tín tâm của chùa Siêu Lý  (thuộc thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long ).
Năm 1990, cụ Diêu Hỷ di dân đến Melbourne, Úc Châu để đoàn tụ với 4 người con trai và 3 con gái đang sinh sống tại đây. Từ đó, cụ Diệu Hỷ là đệ tử tín tâm của nhiều ngôi Tam Bảo ở vùng Melbourne, Sydney, Việt Nam và Ấn Độ.
Cụ Diệu Hỷ là Liên Hữu của Đạo tràng Cực Lạc Liên Hữu, thuộc chùa Quang Minh, do Đại Đức Thích Phước Tấn chủ trì. Do có nhiều thiện duyên người con rể thứ 9 của cụ Diêu Hỷ đã xuất gia vào năm 1996. Cụ Diệu Hỷ không phải làngười có học vấn  cao rộng, cũng không phải là người có kiến thức uyên bác về giáo lý, kinh điển của Phật Giáo.  Cụ Diệu Hỷ thọ Tam quy và Ngũ giới một cách nghiêm cẩn.  Mỗi tháng cụ thọ Bát Quan Trai Giới 4 ngày.  Sau khi mổ sạn mật , do lời khuyên của bác sĩ, cụ không còn thọ Bát Quan Trai Giới nữa, nhưng tâm rất luyến tiếc công phu nhiều năm phải bỏ dở.
Theo những người con, thì cụ Diệu Hỷ là người có tâm cố chấp; khi buồn, giận thì buồn giận rất lâu, không xả bỏ được.  Cụ Diệu Hỷ cũng biết  rõ tâm cố chấp này của mình, nhưng dù cố gắng tu tập nhiều năm vẫn chưa đoạn trừ được.  Theo như nhận xét của nhiều người thân, thì vào những tháng cuối cùng của cuộc đời, cụ Diệu Hỷ đã từng bước đoạn trừ được kiến chấp, lòng sân hận và tỏ rõ quyết tâm sẳn sàng từ bỏ thân ngũ trược này.
Năm 1995, người con trai thứ 5 của cụ Diệu Hỷ từ Hoa Kỳ đến Úc châu thăm cụ và để lại cho cụ một  "nghi tình" lớn:  " PHIỀN NÃO LÀ NIẾT BÀN " . Từ đó, trong nhiều năm liền, tâm của cụ Diệu Hỷ không thoát ra khỏi  "nghi tình" này.  Gặp ai cụ cũng đặt ra câu hỏi: " Vì sao phiền não là Niết Bàn ?? "
Từ năm 2000, cụ Diệu Hỷ thường nói với con cháu    " Mẹ rất chán ngán cõi ngũ trược luân hồi này, một khi đã ra đi, mẹ không muốn trở lại cõi này nữa…" Thấy nhân duyên đã đến, người con trai thứ 10 của cụ Diệu Hỷ khuyên cụ : " Chỉ có con đường Tịnh Độ, nhất tâm niệm Hồng Danh Đức A Di Đà mới có thể vãng sanh về Cực Lạc Tây Phương, Tịnh thổ của Đức A Di Đà Phật được". Cụ Diệu Hỷ vô cùng hoan hỷ, phát tâm tham gia vào Đạo Tràng Cực Lạc Liên Hũu của Chùa Quang Minh ( Melbourne ). Mặc dù vẫn niệm Phật từ nhiều chục năm qua, nhưng cụ Diệu Hỷ vẫn chưa tu tập pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương như một pháp môn trọng yếu thật sự. Khi nhân duyên đã đến, trong hai năm sau cùng của cuộc đời, cụ đã tỏ rõ quyết tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc cõi A Di Đà.  Sáng niệm Phật, trưa niệm Phật, chiều niệm Phật, tối niệm Phật, niệm niệm không ngừng với lòng tín tâm vô bờ bến. Bên cạnh công phu nhất tâm niệm niệm Hồng Danh A Di Đà Phật, cụ Diệu Hỷ luôn luôn hoan hỉ công đức, phát tâm hoan hỉ bố thí, phóng sanh, hoan hỉ cúng dường Tam Bảo. Dường như phước báu của công phu niệm Phật luôn làm cho cụ hoan hỉ, an lạc và mát mẻ.
Trong những ngày tháng sau cùng, cụ Diệu Hỷ dường như đã hoàn toàn biến đổi thành " một người khác". Những kiến chấp nặng nề của tâm thức của cụ đã rơi rớt xuống như những mảnh hồ vữa rơi rớt xuống từ một bức tường cũ kỹ. Gặp ai cụ cũng đều vô cùng hoan hỉ, cụ luôn tìm mọi cơ hội để " cho bớt"  những gì thuộc về mình.  Gặp ai cụ cũng khuyến khích tu hành, niệm Phật, bố thí, làm phước.  Đặc biệt đối với các con cháu, cụ luôn nhắc nhở, khuyến tấn con cháu tu hành, làm phước, làm lành, tránh xa việc ác. Cụ Diệu Hỷ tu hành thật đơn giản : Gìn giữ Tam Qui và Ngũ Giới, Thập Thiện. Hoan hỉ mọi công đức, giữ thân tâm an lạc và thanh tịnh, tinh tấn niệm Hồng Danh A Di Đà Phật.
Thật là rõ ràng và đơn giản biết bao! Hỡi ôi, sinh tử là việc lớn, tu nhất kiếp, ngộ nhất thời như bậc cổ đức    đã từng nói. Với tín tâm như thế, cụ Diệu Hỷ đã nhẹ nhàng trút bỏ tất cả, ra đi trong niềm an lạc vô biên.  Sáng ngày 7-8-2001, sau khi công phu sáng xong, cụ Diệu Hỷ đến phòng ăn, pha tách cà phê , uống và ăn bánh sáng.  Bất thình lình cụ ngã qu?xuống đất và la lên một tiếng thật lớn. Lúc đó người con gái thứ tư của cụ là cô Oanh, lập tức chạy đến và thấy mẹ mình ở tình trạng rất nguy ngập và chị gọi ngay xe cấp cứu đến để đưa cụ đến bệnh viện. Một giờ sau khi bị tai biến mạch máu não, cụ Diệu Hỷ vẫn còn nhận biết những người con và không ngừng niệm Phật, hòa trong tiếng niệm Hồng Danh Đức A Di Đà Phật của các con cháu. Sau khi giải phẫu đầu, cụ Diệu Hỷ không tỉnh lại nữa. Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng, vị Thầy có nhiều nhân duyên với cụ Diệu Hỷ đã khai thị và trì tụng cho cụ.  Đại Đức Thích Phước Tấn, Đại Đức Thích Phước Thiền, Đại Đức Thích Nguyên Tạng , Đại Đức Thích Tịnh Đạo là những vị Thầy mà cụ Diệu Hỷ vô cùng qúy kính cũng kịp thời đến thăm và trì tụng cho cụ Diệu Hỷ tại bệnh viện.
Vào lúc 9g 45 sáng ngày 10-8-2001, cụ Diệu Hỷ đã vãng sanh một cách nhẹ nhàng, an lạc trong tiếng niệm Hồng Danh A Di Đà không dứt của các con cháu. Cụ Diệu Hỷ đã được chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni, đạo hữu các đạo tràng, và các ban hộ niệm của nhiều Chùa ở Melbourne đến viếng và trì tụng vãng sanh từ ngày 11-8-2001 đến ngày 13-8-2001.
Sáng ngày 13-8-2001, xác thân cụ Diệu Hỷ được Đưa vào nhà thiêu Altona Crematorium để hỏa thiêu lúc 11g sáng. Do có sự cảm ứng được báo trước của người con gái thứ 11 của cụ Diệu Hỷ, nên con cháu cụ xin phép được quan sát tro cốt sau khi hỏa thiêu.
 Được sự đồng ý của nhà thiêu Altona, con cháu của cụ và Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng đến nhà thiêu lúc 3g30 chiều cùng ngày 13-8-2001. Trong hộp tro cốt, Đại Đức Thích Trúc Thông Hoàng và con cháu cụ Diệu Hỷ, đã tìm thấy hơn trăm mảnh xá lợi đủ 5 màu sắc: đen, đỏ, vàng, xanh, trắng. Đa số các mảnh kết thành Hoa xá lợi, có hình như hoa cúc.  Đến 4g cùng ngày Đại Đức Thích Phước Tấn đến, và Thầy đã tìm thấy thêm 2 viên xá lợi hình tròn như hạt tiêu màu vàng sậm, bóng sáng rất đẹp, và Đại Đức cũng tìm thấy thêm nhiều hoa xá lợi khác nữa. Sự khác biệt giữa xá lợi và di cốt là: Xá lợi kết thành viên tròn hoặc thành hoa xá lợi hình bông cúc, cứng, rắn chắc không bóp vỡ được và có màu ( đen, đỏ, vàng, xanh, trắng ). Di cốt thì màu trắng ngà, xốp hoặc đặc, nhưng mềm, dùng tay bóp có thể vỡ ra..
Đại Đức Thích Phước Tấn xác nhận tất cả những phần tìm thấy đều là xá lợi, có giá trị như sự chứng thực cụ Diệu Hỷ đã thực sự vãng sanh. Đại Đức khuyên con cháu nên thờ kính xá lợi không như thờ cha mẹ, mà như  bậc Thầy dẫn dắt ta trên đường tu tập.  Con cháu cụ Diệu Hỷ hơn 10 người có mặt tại chỗ đều cung kính nhận lấy lời dạy của Đại Đức Thích Phước Tấn.  Số xá lợi được đem về tôn thờ tại nhà người con gái thứ 4 của cụ Diệu Hỷ, địa chỉ: 382 Francis st. yarraville. Vic. 3013. Australia.
Ba ngày sau khi đem về, sau khi đem ra để an vị xá lợi vào hộp kiếng, số xá lợi đã tăng thêm gấp 3 lần và có màu sắc sáng láng hơn.  14 ngày sau, khi con cháu đem xá lợi ra để ngắm dưới kính phóng đại , thấy có nhiều ánh sáng trắng nhấp nháy như ánh sáng kim cương , hoặc như ánh sáng của các vì sao chiếu nhấp nhoáng trên bầu trời vào ban đêm.  Đây là một sự huyền diệu, không thể lý giải bằng phương pháp khoa học, chỉ có thể lý giải bằng  tín tâm vào sự mầu nhiệm  của Phật Pháp mà thôi.
Đại Đức Thích Phước Tấn có cung thỉnh 2 viên xá lợi tròn màu vàng sậm ( do chính Đại Đức Tìm thấy ) và thêm vài hoa xá lợi khác màu xanh về chùa Quang Minh. Số xá lợi còn lại, được chia cho các con cháu để thờ kính, và các Chùa, Tự viện nếu có lời yêu cầu; nhằm mục đích khuyến tu. Trong kệ kinh sách của cụ Diệu Hỷ, người con trai trưởng của cụ đã tìm thấy nhiều thủ bút của cụ. Trong đó có thủ bút của cụ Diệu Hỷ sưu tập chép lại bài thơ, hoặc sáng tác chưa rõ.
TA  NHÌN  TA
Đêm sầu gần một kiếp
Ôm bóng tối ưu phiền
Chính giữa lòng triền miên
Mang âm thầm tứ nghiệp
Nằm đu đưa ảo mộng
Đi suốt trùng sương mù
Ngồi dưới tàng cây phượng
Còn nữa đời phù du
Sáng ngày bên đầu núi
Bên đất trời mênh mông
Biết ta là hạt bụi
Trong cơn lốc vô thường
Nhìn xuống vào sâu thẳm
Dòng sông nào vơi đầy
Biển khơi nào đã cạn
Mưa nắng nào qua đây
Làm Thiền sư khoác áo
Leo lên đỉnh non cao
Khu rừng xưa mất dấu
Xuyên lá nắng nào reo
Ta bước vào tịnh cốc           
 Ngồi tụng Kinh Kim Cang
 Chợt  nụ  cười  Di  Lặc
Căn cứ vào những thủ bút do cụ Diệu Hỷ ghi chép và để lại, có thể thấy rất rõ rằng cụ Diệu Hỷ đã đi trên con đường Phước Huệ song tu suốt cả đời cụ. Còn quan sát hành trạng của cụ như gìn giữ Tam Quy, Ngũ giới, thọ Bát Quan Trai giới, Thọ Thập Thiện giới, hoan hỉ công đức cúng dường Tam Bảo,  Từ bi , phóng sanh, làm lành, lánh dữ… thì có thể nói cụ Diệu Hỷ đang đi trên đường Giới, Định, Huệ tiệm tu qua nhiều chục năm của cuộc đời cụ. Nhưng nếu nhìn gần những  năm tháng cuối đời của cụ Diệu Hỷ, có thể nói cụ chuyên chú vào pháp môn niệm phật, niệm niệm không dừng dứt, để cầu vãng sanh cõi A Di Đà Phật, tịnh thổ của Tây Phương Cực lạc.  Như trong kinh A Di Đà đã nói: Hựu nhất nhật… nhất tâm bất loạn, nhất tâm, nhất niệm, niệm niệm Hồng Danh A Di Đà Phật cũng đủ được vãng sanh cõi A Di Đà. 
Trong lần viếng di tích Phật Giáo năm 1997 ở Ấn Độ, mặc dù tuổi đã già  sức đã yếu,    chỉ với cây gậy chống đỡ , cụ Diệu Hỷ đã leo lên đỉnh núi Linh Thứu trước tất cả mọi người trong đoàn . Và ngay trên tảng đá, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hơn 2.600 năm  trước, đã thuyết Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, cụ Diệu Hỷ đã dùng tóc mình để cúng dường Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật và pháp bảo vô lượng. Ôi! Dũng mãnh thay Đại lực tín tâm của một người phật tử bình thường. Ôi! Kiên cố thay Đại lực tín tâm như kim cương của một hành giả trên đường vượt thoát sinh tử luân hồi.    Chỉ bằng sức tín tâm, nhất tâm nhất niệm, niệm niệm không rời Hồng Danh A Di Đà Phật, mà cụ Diệu Hỷ đã chứng thực : VÃNG  SANH  CÕI  DI  ĐÀ    HIỆN THỰC.
Tất  cả lời biện luận uyên bác, cao siêu; trăm nghìn vấn đáp phù phiếm chẳng qua là tro cốt còn lại. Tín tâm và hạnh nguyện , nhất tâm, nhất niệm Hồng Danh A Di Đà, dù chỉ 1 ngày, 2 ngày , 3 ngày, 4 ngày, 5 ngày, 6 ngày 7 ngày mà nhất tâm bất loạn cũng chắc chắn vãng sanh về cõi Cực Lạc Tây Phương . Và tinh tủy của công năng niệm Phật ấy đã kết thành xá lợi, lưu ly, sáng ngời, lấp lánh như kim cương.    Phải chăng,  cụ Diệu Hỷ chỉ muốn để lại cho con cháu lời nhắn nhủ  vô ngôn : Trải qua A  tăng kỳ kiếp, ngụp lặn trong sinh tử, luân hồi. Trải qua lửa đỏ của 9 tầng địa ngục, Chỉ bằng Tín tâm và nhất niệm Hồng Danh A Di Đà Phật, cũng đủ độ thoát hằng hà sa chúng sanh qua bên kia bờ sinh tử ! Hỡi ơi, kiến thức càng lớn, kiến chấp càng sâu dày, nghiệp duyên càng nặng, tín tâm càng nhỏ, ngã ta càng to, tro cốt càng nhiều, sinh tử bao giờ mới dừng lại ? Kiến chấp bỏ xuống, nghiệp mỏng, duyên dày, tín tâm vô lượng, ngã ta không còn, chỉ còn lại kim cương và lưu ly sáng ngời như hào quang tiếp dẫn của Đức A Di Đà từ cõi  Tịnh Thổ Cực Lạc Tây Phương.
 NAM MÔ  A  DI  ĐÀ  PHẬT.
Viết tại Melbourne 25-8-2001
Thiện Ngộ ( Con trai thứ 5 của bà Diệu Hỷ)

Đại Cư Sĩ LÝ BỈNH NAM - Vãng sanh lưu lại cả ngàn viên xá lợi.

Ngài Lý Bỉnh Nam là vị Thầy vĩ đại của hơn 200 ngàn đệ tử nói chung và của Hòa Thượng Tịnh Không nói riêng. Sau khi Ngài tịch, thiên hạ mến mộ công đức của Ngài nên mỗi ngày có khoảng 600 người đến hộ niệm. Tất cả đều tự động đến, không phải để chia buồn, nói lời rỗng tuếch mà đi xung quanh quan tài hộ niệm. Tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ trong suốt 49 ngày.

 
Đại Cư Sĩ LÝ BỈNH NAM

Người tu theo pháp môn niệm Phật mà không biết gì về Ngài Lý Bỉnh Nam cũng là một điều đáng tiếc.
Ngày nay, đa số Phật tử Việt Nam ở nước ngoài biết được và theo học với một nhà sư Tàu – Hòa Thượng Thích Tịnh Không. Ngài là người đang hoằng dương pháp môn giải thoát mà Đức Phật Thích Ca đã dạy riêng cho chúng sanh thời mạt pháp này.
 Chúng tôi dùng chữ nhà sư Tàu, chẳng phải là chúng tôi phân biệt Tàu hay Việt, nhưng để mọi người thấy, Phật tử Việt Nam không phân biệt Tàu hay Việt. Cũng như chúng ta tu theo Phật, là tu theo ông Phật là người Nepal. Chúng tôi viết điều này ra ở đây để chứng minh Phật tử Việt Nam không phân biệt chấp trước. Tàu, Ấn Độ hay Nepal cũng được, bất cứ ai thấu suốt pháp môn giúp chúng sanh thoát khỏi lục đạo luân hồi thì chúng ta tu theo học. Có dịp chúng tôi sẽ trình bày chỗ chấp của một số người Việt Nam, mà nhiều năm qua làm hại Phật tử Việt Nam rất nhiều. 

         Tài liệu chúng tôi viết về cư sĩ Lý Bỉnh Nam là do cư sĩ Trần Văn Tường ở Úc lấy từ mạng điện toán của chùa Quảng Đức ở Úc gởi tặng chúng tôi.
Lý Bỉnh Nam là một cư sĩ thôi. Nhưng là một cư sĩ vĩ đại đã đào tạo cho chúng sanh thời mạt pháp này một vị Pháp sư lỗi lạc, một Hòa Thượng được người Việt Hoa khắp thế giới ngưỡng mộ. Khi viết về Ngài Lý Bỉnh Nam, có người vẫn chấp, sợ giới thiệu Ngài là một cư sĩ thì làm nhẹ thể vị Hòa Thượng khả kính. Tại vị ấy chấp, chứ Hòa Thượng Tịnh Không vẫn hãnh diện nói, Thầy tôi là một cư sĩ, và khi tôi được ông chấp thuận cho làm học trò, ông buộc tôi phải bỏ tất cả những gì tôi đã học được với hai vị Thầy cũng danh tiếng, đó là Giáo sư Đông Phương Mỹ và Chương Gia Đại Sư, một đại Lạt Ma.  
        Người tu phải nhìn thấu và biết buông xuống. Nếu được như vậy là thấu được điều Phật dạy “Nhứt thiết pháp không! Nhứt thiết pháp tùy tâm tưởng!”.
       Những điều chúng tôi viết, chúng tôi thường nói thẳng điều  mình biết mà không nuôi tâm chê trách ai. Nói để mong Phật giáo Việt Nam ngày mai sẽ vượt lên và mọi người đều buông hết, không chấp trước để cùng lo cho chúng sanh. Cái ta hãy bỏ đi, cái chủng tộc cũng buông đi, để hướng chúng sanh đi đến một đại đồng và siêu thoát.
Đây, bài viết về Đại Cư sĩ Lý Bỉnh Nam
của chùa Quảng Đức - Úc Châu
         Cư sĩ Lý Bỉnh Nam thời Dân Quốc, hiệu Tuyết Lư hay Tuyết Tăng; người thành phố Tế Nam tỉnh Sơn Đông. Tự bé, ông đã đỉnh ngộ, hiếu học. Ông chuyên học về pháp luật, chính trị và học cả Trung y, nghiên cứu Phật học: Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, ông đều thường tu trì. Ông từng giữ chức giám ngục của huyện Lữ, nhưng nhân từ tột bực, chung thân ăn chay.   
        Ông quy y với vị Tổ thứ mười ba của Tịnh tông là Ấn Quang Đại sư, được ban hiệu là Đức Minh. Ông gắng sức tự hành, dạy người chuyên tu Tịnh nghiệp. Sau ông đáp lời mời, làm bí thư cho vị chủ nhiệm quản trị nhà thờ phụng Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư (Khổng Tử).   
        Ông theo chủ nhiệm Khổng Thượng Công (Khổng Đức Thành) thiên di theo chính phủ về Trùng Khánh, sống ở biệt thự Ỷ Lan thuộc núi Ca Nhạc. Mỗi sáng sớm, ông lên chùa Vân Đảnh để lễ tụng, niệm Phật. Ít lâu sau, ông lãnh trách nhiệm giảng dạy cho Phật Học Giảng Diễn Hội của chùa mấy năm, người tin theo rất đông. Năm Dân Quốc 45 (1946), theo Khổng Thượng Công trở về Nam Kinh, ông thường giảng Kinh tại chùa Phổ Tế và Chánh Nhân Liên Xã.   
        Tháng Hai năm Dân Quốc 38 (1949), vào lúc sáu mươi tuổi, ông theo Khổng Thượng Công qua Đài Loan, ngụ tại Thành phố Đài Trung. Vừa mới sắp xếp công vụ xong, ông đã tìm được chùa Pháp Hoa để làm cơ sở hoằng pháp và lập phòng chẩn mạch Trung Y, lập Bồ Đề Y Viện và Thí Y Hội v.v... để chữa trị, hốt thuốc miễn phí. Ông khởi xướng những sự nghiệp hoằng hóa, từ thiện để tiếp dẫn quần cơ đồng tu Tịnh Nghiệp.
         Ông thường nhóm chúng niệm Phật; cử phái viên hoằng pháp đến thăm các nhà giam và những gia đình liên hữu. Do đó, pháp duyên ngày càng rộng rãi; tòa giảng kinh của ông mở rộng đến các chùa Linh Sơn, Bảo Giác, Bảo Thiện v.v... Ông còn khuếch trương những cơ sở truyền giáo khắp cả Tam Đài (Đài Bắc, Đài Trung và Đài Nam), chuyên hoằng dương Tịnh Độ phổ độ chúng sanh.   
       Mỗi năm, cử hành Phật Thất nhiều lần; lần nào ông cũng đích thân chủ trì, ân cần, thiết tha huấn thị. Ông thường soạn các tài liệu Phật học hàm thụ và vấn đáp, soạn các chương trình phát thanh miễn phí gởi tặng các đài phát thanh.   
       Về trước tác có: A Di Đà Kinh Trích Chú Tiếp Mông Kỵ Nghĩa Uẩn (lược chú Kinh Di Đà để những người kém hiểu biết lãnh hội được ý nghĩa sâu xa), Đại Chuyên Học Sinh Phật Học Giảng Tòa (tài liệu giảng dạy Phật học cho sinh viên chuyên ngành Phật học) gồm sáu quyển: Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, Hoằng Hộ Tiểu Phẩm Vựng Tồn, v.v... hóa độ nhân gian.   
      Nhân đó, ở các nơi gần hay xa, mọi người đều được bình đẳng hưởng thụ pháp ích. Sau ông nghỉ việc để tăng thời gian hoằng pháp; luôn luôn khuyên người khác tin sâu nhân quả, già dặn, chắc thật niệm Phật.
Trong Pháp môn Niệm Phật có hai công phu để hành trì:
1- Tu Phật Thất, dành cho người căn cơ bình thường.
2- Ban Châu Tam Muội, dành cho người siêu việt xuất chúng, có sức khỏe dẻo dai. 
        Hành giả thực hành Ban Châu Tam Muội phải đứng hay đi kinh hành trong thời gian 90 ngày không hề nằm, thường xuyên đắp y hoặc mặc áo tràng. Theo lời kể lại, cư sĩ Lý Bỉnh Nam đã hai lần đạt được Ban Châu Tam Muội. Ngài đã được định rất sâu. Như vậy, có thể Ngài Lý Bỉnh Nam đã đạt được Lý Nhứt Tâm Bất Loạn hoặc Sự Nhất Tâm Bất Loạn.
       Ngày mười hai tháng Tư năm Dân Quốc 75 (1986), ông bảo đệ tử hầu cận:
       - Ta sắp đi đây!  
       Đến sáng hôm sau, ông niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, dặn dò đệ tử rồi nằm yên lành mà tịch. Thọ chín mươi bảy tuổi. Sau khi trà tỳ, thu được hơn cả ngàn viên xá lợi ngũ sắc.
(theo Lý Công Tuyết Hư Lão Cư Sĩ Lược Sự). 
Hòa Thượng Tịnh Không nói về
Đại Cư sĩ Lý Bỉnh Nam 
  
        Như chư liên hữu thấy, sau khi vãng sanh, cư sĩ Lý Bỉnh Nam lưu lại hơn cả ngàn viên Xá Lợi ngũ sắc. Đó là kết quả của người thật sự có công phu tu tập trong nhiều năm niệm Phật.
        Rải rác trong các băng giảng, Hòa Thượng Tịnh Không thường nhắc đến vị Thầy vĩ đại của mình. Chúng tôi chẳng nhớ trong băng giảng nào đã ghi ra tài liệu dưới đây: 
        Theo Hòa Thượng Tịnh Không, tướng của Lý Bỉnh Nam không phải là người trường thọ. Vì cái lỗ tai và cái càm ông ngắn không phải là người sống lâu. Nhưng nhờ ông biết làm việc thiện, như chữa bệnh miễn phí cho mọi người, dạy Phật pháp cho mọi người. Sự thu nhập tài chánh của ông rất dồi dào, nhưng ông đem bố thí cho thiên hạ. Ông sống trong một căn nhà nhỏ, không cần người giúp việc hầu hạ. Đến 90 tuổi, ông sống một mình với thân thể khỏe mạnh cường tráng.  
        Phước báu mà ông có chẳng phải là do đời trước mà có. Sau khi học Phật ông mới tu. Phước báu thọ mạng của ông là nhờ tu trong đời này. Đây là điều mọi người chúng ta cần tìm hiểu học hỏi. Nhiều vị chỉ biết khen người, mà không noi theo gương người để áp dụng cho mình, thì lời khen ấy trở thành rỗng không. Ngài Lý Bỉnh Nam vãng sanh vào lúc 97 tuổi. Điều đáng lưu ý, tuy không ai kêu gọi, thiên hạ mến mộ công đức của Ngài, mỗi ngày có khoảng 600 người đến hộ niệm. Tất cả đều tự động đến, không phải để chia buồn, nói những lời rỗng tuếch, mà đi xung quanh quan tài hộ niệm. Tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ trong suốt 49 ngày.  
        Hòa Thượng Tịnh Không nói : kết quả mà Ngài Lý Bỉnh Nam đã tu trong đời này. Thông minh trí tuệ do Ngài bố thí pháp. Khỏe mạnh trường thọ là bố thí vô úy. Vô úy mà không não hại tất cả chúng sanh. Tất cả chúng sanh gặp ta có cảm giác an toàn. Đó là vô úy. Ngài Lý Bỉnh Nam có trên 200 ngàn đệ tử. Thật là vĩ đại!

                                                                                                                              Chùa Hoằng Pháp

Đại lễ Vu Lan Báo Hiếu 2014

Nắng hạ vừa tàn, gió thu hiu hắt, trút lá vàng lả tả cuối chân mây, Vu Lan Báo Hiếu đã về trong khắp nẻo nhân gian, trong lòng tất cả chúng ta.


Hòa chung niềm hân hoan của bao người con Phật nhân ngày lễ Vu Lan Báo Hiếu, để bày tỏ lòng tri ân và báo ân sâu sắc nhất kính dâng lên hai đấng sinh thành, ngày 10/08/2014 (nhằm ngày 15/07 Giáp Ngọ) chùa Hoằng Pháp long trọng tổ chức Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu PL.2558 – DL.2014. Hàng chục ngàn quý thiện nam tín nữ Phật tử từ khắp mọi nơi đã trở về tham dự.
Vu Lan Báo Hiếu là truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam, khởi nguyên từ tinh thần tri ân và báo ân theo lời Phật dạy và noi theo tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên. Vu Lan Báo Hiếu còn là ngày thể hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang đậm tính văn hóa tâm linh, văn hóa đạo đức tình người. Năm tháng trôi qua, đạo hiếu ấy đã thấm sâu vào lòng nhân loại và tạo nên một truyền thống đó là “uống nước nhớ nguồn”.
Đúng 9h, ba hồi chuông trống Bát nhã vang lên, toàn thể quý thiện nam tín nữ Phật tử đã trang nghiêm thành kính xếp hai hàng danh dự để cung nghinh chư tôn Thiền đức Tăng quang lâm giảng đường để chứng minh và cử hành Đại Lễ Vu Lan Báo Hiếu.
Sau khi tuyên bố lý do, giới thiệu chương trình và thành phần tham dự, trong tiếng nhạc trầm ấm, các em đoàn sinh Gia Đình Phật Tử chùa Hoằng Pháp đã đại diện cho toàn thể đạo tràng một lòng chí thành dâng lục cúng dường lên mười phương Tam Bảo để tạo thắng duyên trong ngày Vu Lan Báo Hiếu.
Liên tục chương trình là nghi thức cài hoa hồng – đây là một phần quan trọng trong buổi lễ. Toàn thể đạo tràng đã lắng nghe Phật tử Thanh Huyền diễn đọc về ý nghĩa cài hoa hồng – bông hồng biểu tượng cho tình cảm thiêng liêng cao quý của những người con dành cho cha mẹ. Với tiếng đàn réo rắt du dương do các bạn nhóm Mặt Trời Mới thể hiện càng làm cho trong lòng hội chúng dâng đầy xúc cảm khi nghe về công đức của mẹ cha. Trong giờ phút thiêng liêng ấy, đại chúng đã dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ về thâm ân to lớn của chư Phật, công ơn giáo dưỡng của thầy tổ bổn sư, công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Bên cạnh đó cũng là tưởng nhớ đến ơn đất nước đồng bào, ơn chúng sanh vạn loại, ơn các vị anh linh chiến sĩ đã quên mình cho hòa bình và hạnh phúc của muôn người.  Sau đó, với những ca từ ngọt ngào sâu lắng của ca khúc Bông Hồng Cài Áo do ca sĩ Nguyên Nhung thể hiện đã giúp cho mọi người một lần nữa nhìn lại công lao trời biển của cha và mẹ, để rồi khi đón nhận những bông hoa cài lên ngực áo, chúng ta sẽ cảm nhận được một cách sâu sắc nhất về thâm ân của hai đấng sanh thành trong mỗi màu hoa mà chúng ta cài trên ngực.
Thật hạnh phúc khi chúng ta còn cha còn mẹ và cũng thật bất hạnh cho những ai phải xa cha mẹ. Đây cũng là ý nghĩa được nói lên trong ca khúc “Phận xa cha mẹ” qua tiếng hát của ca sĩ Lương Bích Hữu.
Tiếp theo những dòng cảm xúc đầy nước mắt của những hoàn cảnh thiếu vắng tình thương của cha mẹ, toàn thể đại chúng đã được lắng nghe cảm tưởng của bạn Thiên Kim, 13 tuổi, trẻ mồ côi cha mẹ chùa Diệu Giác, Quận 2, Tp.HCM. Đây là câu chuyện của chính cuộc đời bạn khi từ bé bạn đã mồ côi cha mẹ, đã không được thấy hình bóng của song thân. Nhưng may mắn thay, bạn đã được mái ấm tình thương chùa Diệu Giác che chở. Để từ đây, bạn tìm được niềm vui trong cuộc sống và định hướng cho tương lai của mình.
Trong đại lễ Vu Lan 2014, đại chúng đã được tắm mình trong ánh sáng tình thương vô bờ bến của cha mẹ trong vở kịch “Ánh Sáng Đời Con” do các bạn nhóm Hộ Pháp biên soạn và biểu diễn. Với ý tưởng từ câu chuyện “Bà mẹ một mắt”, các bạn đã xây dựng các tình tiết đầy cảm động và truyền tải một thông điệp hết sức sâu sắc về tình yêu thương và đức hi sinh của người mẹ.
Sau đó, đại chúng cùng lắng lòng và đồng cảm với những ai đã mất cha mất mẹ qua ca khúc “Tâm sự người cài hoa trắng” do ca sĩ Vũ Bảo trình bày.
Đặc biệt trong chương trình đại lễ Vu Lan năm nay còn có phần Lễ Mười Ân Trọng. Trong bầu không khí trang nghiêm thành kính, toàn thể đạo tràng đã một lòng quỳ kính, chắp tay trang nghiêm hướng về mười phương Tam Bảo để lễ tạ Mười Ơn Trọng. Trong tiếng chuông trầm bổng, cả đại chúng cùng nhất tâm lễ tạ mười ân. Và ngay sau đó là chương trình đặc biệt nhất, Lễ Tri Ân Và Báo Ân Cha Mẹ của chư tôn đức, các Phật tử là cha là mẹ của chư tôn đức hiện diện chứng minh đã được mời lên sân khấu để các thầy bày tỏ tấm lòng hiếu ân của mình. Trên Thượng tọa chứng minh cùng chư tôn đức đã lần lượt dâng lên cho cha mẹ những chuỗi hạt và những tràng hoa tươi thắm nhất để thể hiện lòng hiếu kính và tri ân sâu sắc nhất trong ngày Đại lễ Vu Lan Báo Hiếu năm nay.
Một phần không thể thiếu trong chương trình của đại lễ đó là nghi thức Dâng y. Ngay sau lễ Tri Ân, các em thanh thiếu niên Phật tử chùa Hoằng Pháp đã đại diện cho toàn thể chúng hội đạo tràng một lòng thành kính dâng phẩm vật lên cúng dường chư tôn thiền đức Tăng trong giai điệu du dương của ca khúc “Dâng y” với sự thể hiện của ca sĩ Vũ Bảo và ca sĩ Yến Ngọc.
Đạo từ cho buổi lễ, Thượng tọa Thích Chân Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp, trưởng BTC đã thay mặt chư Tăng hiện diện tán thán tinh thần hiếu tâm hiếu hạnh của toàn thể quý Phật tử và hứa khả nạp thọ phẩm vật cúng dường. Thượng tọa cũng có đôi lời khuyến tấn đại chúng, khi chúng ta đã may mắn làm một người Phật tử, học tập Phật pháp mà đặc biệt lại biết được tấm gương hiếu hạnh tột cùng của tôn giả Mục Kiền Liên, đây chính là tấm gương sáng mà chúng ta phải noi theo. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể bỏ qua việc thọ trì năm giới, vì đây là nền tảng đạo đức căn bản của một người con hiếu thảo đối với cha mẹ.
Cuối lời, Thượng tọa kính chúc đến toàn thể quý Phật tử có một mùa Vu Lan trọn niềm hiếu hạnh.
Trong chương trình còn có sự góp mặt của ca sĩ Nhật Thanh với ca khúc “Đi lễ chùa”.
Kết thúc buổi lễ là nghi thức niêm hương bạch Phật cầu nguyện nhân ngày Vu Lan Báo Hiếu. Toàn thể đạo tràng đã cùng nhất tâm nhất niệm xướng tụng kinh văn để nguyện cầu cho cha mẹ hiện tiền cũng như những bậc cha mẹ không còn tại thế, tất cả đều được hưởng phúc lành trong mùa Vu Lan Báo Hiếu.
Ban tổ chức đã phục vụ gần 50.000 phần cơm và phát tặng khoảng 21.000 DVD Đại lễ Vu Lan 2013 và 14.000 VCD Tâm Tình Với các bạn trẻ. Đại lễ kết thúc trong niềm hoan hỷ của tất cả mọi người.
 Sau đây là hình ảnh ghi nhận